Chữa khỏi bệnh thủy đậu

Phòng khám đông y gia truyền Nguyễn Hữu Toàn có truyền thống rất lâu đời. Tiền thân của phòng khám bắt nguồn từ đời ông nội là Y sư Nguyễn Hữu Hách (1897-1990) . Cụ xuất thân từ một nhà nho, giỏi y học. More »

Đông y chữa bệnh thủy đậu

Đông y chữa bệnh thủy đậu More »

Tiêm phòng vẫn mắc thủy đậu

Một thực tế hiện nay tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác là 90% trẻ đã tiêm vắc-xin thủy đậu vẫn mắc bệnh. Vậy phải chăng vắc-xin không có hiệu lực và không có cách nào phòng bệnh này hiệu quả? More »

Nhiễm thủy đậu khi mang thai

Nhiễm thủy đậu trong thai kỳ More »

Chế độ ăn bệnh thủy đậu

Chế độ ăn cho người bị tủy đậu More »

 

Bệnh thuỷ đậu là gì?!

Bệnh thủy đậu là gì?!
Tuyển chọn các bài thuốc hay có thể bạn quan tâm !

benh hiem muon

benh tieu duong

Những nốt ban hồng đường kính vài mm biến thành phỏng nước rất ngứa, lan khắp cơ thể. Bệnh  thủy đậu thường xuất hiện ở trẻ em chưa chủng ngừa, gây sốt, mệt mỏi, khó chịu, kém ăn nhiều ngày. Người lớn bệnh nặng có thể tử vong nếu không được chăm sóc đúng.

Bệnh thủy đậu (trái rạ) do virus Varicelle Zoster gây nên, có thể bị quanh năm nhưng thường gặp nhiều khi thời tiết thay đổi. Bệnh xảy ra phần lớn ở trẻ em (90%), lây lan cao qua đường hô lấp (80-90%) và chỉ lây cho người lần đầu mắc bệnh vì có tính miễn dịch rất cao, ít khi bị bệnh lần 2. Bệnh thường lành tính ở trẻ em, nhưng khá nặng khi gặp ở người lớn với tỷ lệ tử vong 2-25/100.000.

Do vậy, người bị mắc bệnh cần được cách ly tiếp xúc với người ngoài trong vòng 7-10 ngày và trẻ em dưới 12 tuổi nên được chủng ngừa.

Vì vaccine không có hiệu quả suốt đời và chỉ có hiệu quả phòng bệnh 70-88% nên ngoài việc tiêm chủng ngay sau khi sinh, trẻ em còn cần được tiêm nhắc lại sau 14 tháng. Phụ nữ có thai bị nhiễm bệnh trong thời kỳ đầu mang thai có thể gây ra các dị tật bẩm sinh ở trẻ. Trẻ nhỏ mắc bệnh nhẹ hơn trẻ lớn, với thể thông thường không có biến chứng thì bệnh sẽ tự khỏi trong vòng 10 ngày.

Biến chứng

Các biến chứng hay gặp nhất là bội nhiễm da do nốt phỏng bị vỡ hoặc do trẻ gãi hay dịch nước hóa mủ. Viêm phổi gặp ở 20-30% người bệnh. Biến chứng nặng nhất là viêm não do thủy đậu, gặp ở 0,1-0,2% và thường rất nặng ở người lớn. Các biến chứng như: giảm tiểu cầu, viêm tủy cắt ngang, liệt thần kinh mặt, rối loạn tiểu não, hội chứng Reye, viêm cơ tim, viêm thận, viêm gan, viêm đa rễ thần kinh… ít gặp hơn.

Xử trí

- Cách ly ngay người bệnh cho đến khi các nốt thủy đậu đã đóng vảy.
- Giữ vệ sinh thân thể bằng tắm rửa hàng ngày với loại xà phòng sát trùng.
- Ăn uống tăng cường chất bổ để tạo sức đề kháng cho cơ thể.
- Cắt ngắn móng tay, tránh gãi.
- Bôi hoặc uống các thuốc chống ngứa.
- Khi người bệnh sốt cao, cần hạ sốt nhưng không được dùng Aspirin.
- Có thể dùng các thuốc chống virus: Acyclovir, Vidarabin, Lamivudin…

Bệnh thủy đậu là gì?!

Bệnh thủy đậu là gì?!

Chữa thuỷ đậu theo Y học cổ truyền

Trường hợp nhẹ: Không cần cho uống thuốc, chỉ kiêng lạnh, kiêng gió, giữ vệ sinh da dẻ thật tốt. Có thể dùng bài thuốc nam: lá dâu 12g, cam thảo đất 10g, kim ngân hoa 12g, kinh giới 6g cho vào ấm sắc lấy nước uống nhiều lần.

Trường hợp nặng (sốt cao, khát nước, mặt đỏ miệng lưỡi tróc, mụn thuỷ đậu dày và to, quầng đỏ, mụn nước đục, tiểu tiện ít và khó: dùng chủ yếu phép thanh nhiệt giải độc. Kim ngân hoa 12g, lá tre 16g, bạc hà 8g, hoa kinh giới 8g, rau diếp cá 16g, cam thảo đất 12g, quả dành dành 8g sắc lấy nước uống. Nếu có ho, thêm 10g lá chanh, 12g lá táo. nếu ăn không tiêu thêm sơn trang, thần khúc 10g.

Điều quan trọng nhất là phải chủ động tiêm vaccine phòng ngừa khi trẻ được 12 tháng và có thể tiêm nhắc lại lúc 12 tuổi. Vaccine có hiệu quả phòng bệnh 95% và ngừa bệnh nặng 100%. Nếu bệnh nhân bị lại, thường nhẹ, không quá nguy hiểm.

Thủy đậu có thể gây biến chứng cho mắt

Thủy đậu gây biến chứng cho mắt

Thủy đậu gây biến chứng cho mắt

Thủy đậu và sởi là hai bệnh do virut gây ra. Bệnh gây tổn thương cơ bản trên da, nhưng bệnh là bệnh chung của nhiều chuyên khoa: da liễu, nội nhi, tai mũi họng, răng hàm mặt và cả mắt nữa. Phần lớn là lành tính. Tuy nhiên, có thể gặp một số biến chứng nặng trong đó có tổn thương mắt. Dù là y tế đã đẩy mạnh việc tiêm chủng dự phòng và các bậc cha mẹ cũng tích cực hưởng ứng, nhưng bệnh vẫn cứ xảy ra do: Các cháu bị bỏ sót, không được tiêm chủng; Tiêm chủng rồi nhưng vẫn bị do các cháu yếu hoặc miễn dịch kém. Với trường hợp này, bộ mặt lâm sàng của bệnh thường nhẹ hơn, lành hơn.
Tổn thương thủy đậu ở mắt

Chăm sóc bé khi bị thủy đậu như thế nào

Tuyển chọn các bài thuốc hay có thể bạn quan tâm !

benh hiem muon

benh tieu duong

Những cái mụn này vỡ ra rất dễ bị nhiễm trùng và lây lan cho các bé khác.

Nhiều bà mẹ lúng túng không biết chăm sóc như thế nào khi bé yêu bị thủy đậu. Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc, Phó GĐ BV Nhi TƯ cảnh báo: “Thủy đậu vốn là bệnh lành tính nhưng nếu không biết chăm sóc đúng cách, bệnh sẽ lâu lành và để lại nhiều di chứng, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng”.

Dưới đây là những lời khuyên để chăm sóc tốt nhất cho bé khi bị thuỷ đậu:

Giữ vệ sinh sạch sẽ

Khi bị thuỷ đậu, nhiễm trùng là biến chứng thường gặp nhất, biểu hiện chủ yếu là nhiễm trùng da. Khi lên những nốt đỏ, trẻ hay bị ngứa thường gãi làm nốt đậu bị vỡ, trầy xước da khiến vi trùng bên ngoài dễ dàng xâm nhập làm lên mủ và sẽ để lại sẹo lõm. Nặng hơn, vi trùng có thể xâm nhập từ mụn nước vào máu, gây nhiễm trùng huyết, viêm màng não… rất nguy hiểm, có thể khiến người bệnh bị tử vong.

Nhiều người cho rằng khi bé bị thuỷ đậu phải tuyệt đối kiêng nước, kiêng gió nên không tắm, lau rửa cho trẻ là một sai lầm. BS Lộc cho biết, có rất nhiều trường hợp do không giữ vệ sinh sạch sẽ khiến trẻ bị biến chứng nhiễm trùng.

Tốt nhất, phải vệ sinh sạch sẽ cho trẻ bằng cách lấy lá ổi, lá đắng rửa sạch, đun sôi để hơi âm ấm, rồi dùng khăn xô mỏng mềm nhúng nước lau người nhẹ nhàng cho trẻ. Cần lưu ý, khi lau, tắm cho trẻ cần phải rất nhẹ nhàng, tuyệt đối không để nốt đậu bị trợt, chảy nước, vì nếu nước trong nốt đậu chảy đến đâu là mụn đến đấy, chỉ trong vòng 1 – 2 ngày là lên khắp cả người.

Sau khi lau rửa cho trẻ, lại dùng khăn xô khô thấm khô người cho trẻ, rồi mặc cho trẻ quần áo rộng rãi, mềm, thoáng mát. Nếu được điều trị đúng cách và giữ vệ sinh sạch sẽ, chỉ sau 7 – 10 ngày, nốt đậu sẽ xẹp xuống, khô và bong vảy rồi vết thâm sẽ hết sau một thời gian, không để lại sẹo.

Cần cách ly người bệnh

Thuỷ đậu rất dễ lây qua đường hô hấp và lây do tiếp xúc với mụn nước hoặc các dụng cụ sinh hoạt có chứa siêu vi trùng này. Muốn điều trị nhanh chóng, đầu tiên phải cách ly người bệnh. Dù chỉ xuất hiện vài ba nốt đậu cũng phải cách ly với tất cả các trẻ khác, kể cả người lớn chưa bị bệnh này, nếu không nguy cơ lây lan rất nhanh.

Hơn nữa, thường mỗi người chỉ bị thủy đậu một lần và có miễn dịch dài, nhưng nếu sức đề kháng yếu có thể bị tái phát khi có dịch, vì vậy, dù con bạn đã từng bị thuỷ đậu, cũng nên lưu ý không cho trẻ tiếp xúc với những người đang bị để tránh nguy cơ tái phát.

Cần vệ sinh phòng ốc, giường chiếu, ga đệm sạch sẽ. Cho trẻ nằm trong phòng kín gió nhưng không được ẩm thấp và cần nhớ luôn giữ vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, nhắc trẻ không được gãi vỡ nốt đậu.

Điều trị cho trẻ

Trong trường hợp trẻ chỉ bị loét vài nốt mụn, có thể dùng nước ôxy già rửa vết loét rồi dùng bông chấm khô nhưng cần lưu ý, cho bệnh phẩm vào túi nilon bọc kín để tránh lây bệnh cho người khác. Sau đó, bôi thuốc đúng vào giữa nốt đậu (tuy nhiên, có nhiều loại thuốc phù hợp với từng thể bệnh nặng hay nhẹ, do đó, muốn cho trẻ uống hay bôi loại thuốc gì cần hỏi ý kiến của bác sĩ chuyên khoa). Trong quá trình điều trị cha mẹ cần theo dõi kỹ, kịp thời đưa trẻ nhập viện ngay khi có biến chứng.

Khi bị vỡ, trợt nhiều nốt đậu, cần đưa ngay trẻ đến bệnh viện để được điều trị. Vì tình trạng vỡ mụn nhiều có thể làm cho trẻ bị mất nước, nhiễm trùng dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Vì trên thực tế, đã có nhiều trẻ bị trầy xước da nhiều đã bị mất nước, phải có chế độ điều trị đặc biệt, rửa hàng ngày, truyền, tiêm thuốc chống nhiễm khuẩn.

Cho bé ăn đầy đủ dinh dưỡng

Trong suốt thời kỳ bị bệnh, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, ăn những đồ dễ tiêu, không nhất thiết phải kiêng khem trừ khi trẻ bị dị ứng với loại thực phẩm nào đó.

Đặc biệt, nên cho trẻ ăn đồ loãng, uống nước canh gà, uống nhiều nước để bù nước do trẻ bị mất nước khi mụn vỡ, trợt.

Phòng bệnh như thế nào?

Để phòng bệnh, tốt nhất nên cho trẻ tiêm vac-xin phòng thuỷ đậu, kể cả trẻ lớn và người lớn mà chưa miễn dịch với thuỷ đậu cũng nên tiêm phòng.

Chủng ngừa thủy đậu, loại bỏ tử vong

Chủng ngừa thủy đậu

Chủng ngừa thủy đậu

Một nghiên cứu mới ở Mỹ cho thấy, thuốc chủng ngừa bệnh thủy đậu đã gần như loại bỏ các trường hợp tử vong do căn bệnh này ở trẻ em.

Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh nhi (CDC) đăng trên tạp chí Nhi khoa ngày hôm qua, tỷ lệ tử vong do bệnh thủy đậu đã giảm 97% trong số những người dưới 20 tuổi từ 1990-1994 đến 2005-2007. “Các ca trẻ tử vong do thủy đậu đang trở thành quá khứ”, bà Jane Seward, đồng tác giả của nghiên cứu khẳng định.

Đây là một thành tựu rất ấn tượng, nếu xét rằng nghiên cứu này đo đạc hiệu quả của chỉ một liều vắc xin lần đầu tiên được đề nghị năm 1995, Seward nói. Khi vắc xin được đưa vào sử dụng, CDC đã đề nghị dùng một liều duy nhất cho trẻ em trong độ tuổi từ một đến một tuổi rưỡi, giúp ngăn ngừa khoảng 85% số ca lây nhiễm. Năm 2006, CDC khuyến cáo liều thứ hai ở độ tuổi từ 4 đến 6,  với hy vọng để bảo vệ trẻ em nhiều hơn.

Đáng chú ý là, tiêm chủng đã được bảo vệ ngay cả trẻ sơ sinh còn quá bé để chủng ngừa, bởi vì giữ không cho virus lưu thông cũng có nghĩa là bảo vệ những người không được tiêm chủng – một hiện tượng được gọi là “miễn dịch bầy đàn”. Tỷ lệ tiêm chủng cao ở trẻ lớn hơn đã “thực sự phong tỏa việc lan truyền virus”, Seward nói.

Mặc dù nhiều người lớn còn nhớ thủy đậu là một mối phiền toái, trẻ em phát bệnh trong một tuần với triệu chứng sốt và nổi ban ngứa, bệnh có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm, như viêm phổi, viêm não, Seward nói. Trước khi vắc xin được phê chuẩn vào năm 1995, mỗi năm ở Mỹ có khoảng 150 trẻ chết vì căn bệnh này và 11.000 trẻ phải nhập viện.

Thủy đậu cũng là căn bệnh trẻ em gây nhiều phiền phức, nó buộc phụ huynh phải nghỉ việc một tuần, ông Paul Offit, phụ trách khoa bệnh truyền nhiễm Bệnh viện Nhi Philadelphia (Mỹ) nói. Trước khi có vắc xin, mỗi năm có 4 triệu trường hợp mắc bệnh thủy đậu, gây tốn kém 330 triệu USD chi phí y tế và 1,5 tỷ USD  chi phí “xã hội”, chẳng hạn như thời gian làm việc mất đi, theo một phân tích trên Nhi khoa năm 2010.

(Theo Phunuonline)

Bệnh thủy đậu – triệu chứng và phòng ngừa

Tuyển chọn các bài thuốc hay có thể bạn quan tâm !

benh hiem muon

benh tieu duong

Triệu chứng

Bệnh thủy đậu sẽ xuất hiện 10 – 14 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh, khởi phát bệnh thường đột ngột với triệu chứng nổi mụn nước, mụn nước nổi ở vùng đầu mặt, chi và thân, mụn nước xuất hiện rất nhanh trong vòng 12 – 24 giờ có thể nổi toàn thân. Mụn nước có kích thước từ l – 3 mm đường kính, chứa dịch trong, tuy nhiên những trường hợp nặng mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi trùng mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ.

Bên cạnh mụn nước trẻ nhỏ thường kèm sốt nhẹ, biếng ăn nhưng ở người lớn hay trẻ lớn thường kèm sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói. Bệnh sẽ kéo dài từ 7 – 10 ngày nếu không có biến chứng, các nốt rạ sẽ khô dần, bong vảy, thâm da nơi nổi mụn nước, không để lại sẹo, nhưng nếu bị nhiễm thêm vi trùng mụn nước có thể để lại sẹo.
Ban ngứa có thể là dấu hiệu đầu tiên của cơn bệnh.Sốt nhẹ, nhức đầu và mệt mỏi là điều thông thường.
Người bị nhiễm bệnh có thể bị từ chỉ vài mụn trái rạ cho đến hơn 500 mụn trên thân thể.

Lây lan

Bệnh rất truyền nhiễm và lây lan qua sự đụng chạm đến ban ngứa từ người bị thuỷ đậu hoặc qua những giọt nước nhỏ trong không khí từ miệng hay mũi của một người bị nhiễm (ví dụ, khi một người bị nhiễm trái rạ hắt hơi nhảy mũi hoặc ho).
Bệnh cũng có thể lây lan qua sự tiếp xúc đến quần áo hoặc vải trải giường bị ô nhiễm bởi chất dịch từ ban ngứa hoặc từ miệng hay mũi của người bị bệnh.
Bệnh phát triển trong vòng 10-21 ngày sau khi tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh.
Bệnh thuỷ đậu có thể lây từ 1-2 ngày trước khi nổi ban ngứa cho đến khi tất cả những vết phồng đã đóng vảy (thông thường trong vòng 5 ngày từ khi những vết phồng nổi lên).
Những người nào có hệ miễn dịch bị suy yếu mà bị trái rạ thì có thể phải mất một thời gian lâu hơn để những mụn thuỷ đậu của họ đóng vảy.
Khoảng 90% những nguời nào chưa từng bị thuỷ đậu trong gia đình thì sẽ bị nếu tiếp xúc với một nguời thân bị nhiễm bệnh.

Biến chứng

Biến chứng của bệnh thủy đậu rất là nhiều, mặc dù đây là một bệnh lành tính, không có triệu chứng nặng nề ngoài những hồng ban mụn nước lan tràn. Tuy nhiên, bệnh có thể có những biến chứng rất quan trọng.

Biến chứng nhẹ của bệnh là nhiễm trùng da nơi mụn nước, nặng hơn vi trùng có thể xâm nhập từ mụn nước vào máu gây nhiễm trùng huyết. Các biến chứng nặng như viêm phổi, viêm não, viêm tiểu não … là các biến chứng có thể nguy hiểm đến tính mạng, hay để lại di chứng sau này.

Đặc biệt, thậm chí sau khi bệnh nhân đã khỏi bệnh, siêu vi thuỷ đậu vẫn còn tồn tại trong các hạch thần kinh dưới dạng bất hoạt (ngủ đông). Nhiều năm sau đó, có thể là 10, 20, hay 30 năm sau, khi có điều kiện thuận tiện như sức đề kháng cơ thể kém hay có yếu tố gì khác, thì siêu vi này sẽ tái hoạt động trở lại và gây ra san thương của bệnh Zona, có người còn gọi là giời leo.

Phụ nữ mang thai nếu mắc bệnh thủy đậu sẽ rất nguy hiểm vì sẽ dễ bị biến chứng nặng, đặc biệt là viêm phổi. Khi phụ nữ mang thai bị thủy đậu ở 3 tháng đầu của thai kỳ, virus sẽ gây sảy thai, hay khi sinh ra trẻ sẽ bị thủy đậu bẩm sinh với nhiều dị tật như đầu nhỏ, co gồng tay chân, bại não, sẹo bẩm sinh… Còn nếu bị trong những ngày sắp sinh hay sau sinh trẻ bị lây bệnh sẽ bệnh rất nặng với mụn nước nổi rất nhiều và dễ bị biến chứng viêm phổi, Viên đường hô hấp..

Phòng ngừa

Vaccine chống thuỷ đậu có hiệu quả cao và lâu dài, giúp cơ thể tạo kháng thể chống lại virus thủy đậu, được áp dụng đối với các đối tượng sau:

- Tất cả trẻ em từ 12-18 tháng tuổi được tiêm 1 lần.

- Trẻ em từ 19 tháng tuổi đến 13 tuổi chưa từng bị thuỷ đậu lần nào cũng tiêm 1 lần.

- Trẻ em trên 13 tuổi và người lớn chưa từng bị thủy đậu lần nào thì nên tiêm 2 lần, nhắc lại cách nhau từ 4-8 tuần.

Hiệu quả bảo vệ của vaccine thủy đậu có tác dụng lâu bền.

Nếu đã được chủng ngừa vaccine thủy đậu thì đại đa số từ 80-90% có khả năng phòng bệnh tuyệt đối. Tuy nhiên, cũng còn khoảng 10% còn lại là có thể bị thủy đậu sau khi tiêm chủng, nhưng các trường hợp này cũng chỉ bị nhẹ, với rất ít nốt đậu, khoảng dưới 50 nốt, và thường là không bị biến chứng.

Thời gian ủ bệnh của thuỷ đậu là từ 1-2 tuần sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, do đó, nếu một người chưa được tiêm phòng vaccine thuỷ đậu mà có tiếp xúc với bệnh nhân thuỷ đậu, trong vòng 3 ngày ta có thể tiêm ngừa thì vaccine có thể phát huy tác dụng bảo vệ ngay sau đó giúp phòng ngừa thủy đậu do đó phải cẩn thận

Ngô thù – Cây thuốc chữa bệnh thủy đậu

ngo-thu-du
Tuyển chọn các bài thuốc hay có thể bạn quan tâm !

benh hiem muon

benh tieu duong

NGÔ THÙ

Tác dụng:

+ Ôn trung, chỉ thống, hạ khí, trục phong tà, khai tấu lý (Bản Kinh).

+ Kiện tỳ, thông quan tiết (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

+ Khai uất, hóa trệ (Bản Thảo Cương Mục).

+ Ôn trung, chỉ thống, lý khí, táo thấp (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Khứ hàn, chỉ thống, chỉ ẩu, giáng nghịch, ôn tỳ, chỉ tả, khứ đờm thấp (Trung Dược Học).

Biến chứng nguy hiểm của bệnh thủy đậu

Biến chứng bệnh thủy đậu
Tuyển chọn các bài thuốc hay có thể bạn quan tâm !

benh hiem muon

benh tieu duong

Bác sĩ Nguyễn Văn Lâm, Khoa truyền nhiễm, Bệnh viện Nhi Trung ương, cảnh báo: “Đây là thời điểm thuận lợi để bệnh thuỷ đậu phát triển. Nếu cha mẹ không biết cách phòng ngừa bệnh sẽ dẫn đến nhiễm trùng, viêm phổi, viêm não”.

Bệnh lây nhiễm do virus
Theo BS Lâm, thuỷ đậu là bệnh nhiễm virus cấp tính toàn thân với khởi bệnh đột ngột, sốt nhẹ, sau đó ở da xuất hiện những nốt phỏng nước như hạt đậu. Sau 3-4 ngày, những nốt phỏng bắt đầu xẹp nước và để lại những nốt vảy.

Các tổn thương của nốt đậu thường xuất hiện nhiều ở chỗ kín hơn chỗ hở, thường mọc nhiều ở các vùng như: Da đầu, hố nách, niêm mạc miệng, đường hô hấp trên, kết mạc. Trong một vài trường hợp, bệnh ở thể ẩn, không xuất hiện những nốt phỏng.

BS Lâm khẳng định, bệnh thuỷ đậu là một trong những bệnh truyền nhiễm dễ lây nhất, nhất là ở giai đoạn đầu mới phát ban. Cơ chế lây truyền là từ người sang người bằng tiếp xúc trực tiếp. Khi tiếp xúc, những giọt nước bọt bắn trong không khí có chứa virus gây bệnh thuỷ đậu sẽ dễ dàng lây sang người lành, nhất là trẻ nhỏ vốn có sức đề kháng yếu ớt.

Vì vậy, ở những nơi tập trung đông trẻ như các trường mẫu giáo, các trường tiểu học, nếu xuất hiện một vài ca bệnh thuỷ đậu sẽ rất dễ lây lan thành dịch. Thời kỳ ủ bệnh thường từ 2-3 tuần. Thời kỳ lây truyền dài nhất là 5 ngày, thường từ 1-2 ngày trước khi phát ban và không quá 5 ngày sau khi xuất hiện lớp phỏng rạ đầu tiên.

Thủy đậu – bệnh truyền nhiễm đáng ngại

thuy dau
Tuyển chọn các bài thuốc hay có thể bạn quan tâm !

benh hiem muon

benh tieu duong

Thủy đậu là một bệnh lành tính nhưng lại không thể xem thường, thời gian ủ bệnh từ 10 – 14 ngày.

Thủy đậu (bỏng rạ, trái rạ) là một bệnh ngoài da do vi rút Varicella Zoster gây ra với nhóm đối tượng chính là trẻ em từ 1 – 10 tuổi. Lây lan qua đường hô hấp, qua tiếp xúc với dịch của mụn nước vỡ ra, hoặc với các tổn thương của người bệnh, thậm chí có thể lây khi tiếp xúc với dụng cụ học tập, quần áo, ga trải giường, đồ chơi…có chứa siêu vi trùng gây bệnh, bệnh thủy đậu vì thế khi bùng phát rất khó kiểm soát, trở thành một bệnh đáng quan ngại mà các bậc phụ huynh cần đặc biệt lưu ý.

Vì sao trẻ vẫn mắc bệnh dù đã tiêm vắc-xin thủy đậu?

Tuyển chọn các bài thuốc hay có thể bạn quan tâm !

benh hiem muon

benh tieu duong

(Dân trí) – Một thực tế hiện nay tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác là 90% trẻ đã tiêm vắc-xin thủy đậu vẫn mắc bệnh. Vậy phải chăng vắc-xin không có hiệu lực và không có cách nào phòng bệnh này hiệu quả?

Thủy đậu
Một trẻ mắc thủy đậu bị biến chứng viêm não đang được điều trị tại BV Nhi đồng 1

 

Tại Hội thảo Phòng ngừa bệnh thủy đậu một cách hiệu quả do Viện Pasteur TPHCM tổ chức ngày 14/4 vừa qua, các chuyên gia y tế đều đồng tình rằng tình hình bệnh thủy đậu đang gia tăng tại khu vực phía Nam. Cụ thể, số trường hợp mắc thủy đậu năm 2011 đã là gần 5.500 ca, tăng hơn gấp đôi so với 2010.

BS Đinh Văn Thới, viện Pasteur TPHCM cho biết: bệnh thủy đậu tập trung vào tháng 4-5 hàng năm. Tỷ lệ mắc bệnh nhiều nhất tập trung ở trẻ 1-10 tuổi. Vậy nhưng chỉ tính riêng trong 3 tháng đầu năm 2012, tại bệnh viện Nhi đồng 1 đã có hơn 1.500 trường hợp tới khám, bằng 75% số ca mắc của cả năm 2010. Đặc biệt, trong số những trẻ mắc bệnh có nhiều trường hợp đã tiêm 1 liều vắc-xin phòng thủy đậu.

Mổ xẻ nguyên nhân của tình trạng tiêm rồi vẫn bị bệnh, các chuyên gia cho rằng: đó là bởi trẻ đã tiếp xúc với vi-rút thủy đậu hoang dại trong khi nồng độ kháng thể sau khi chủng ngừa giảm dần theo thời gian.

Trên thực tế, các nghiên cứu cho thấy với những trẻ chỉ tiêm vắc-xin thủy đậu 1 lần, chắc chắn 90% sẽ mắc bệnh trước tuổi 13 và số còn lại sẽ mắc 1 lần vào bất kỳ thời điểm nào khác.Tiếp tục nghiên cứu, các nhà khoa học nhận thấy phác đồ chủng ngừa 2 liều vắc-xin cho thấy giúp tạo ra đáp ứng miễn dịch mạnh hơn và là liều vắc-xin thứ hai giúp mang lại hiệu lực vắc-xin cao hơn một cách có ý nghĩa, giảm tỉ lệ breakthrough (mắc thủy đậu mặc dù đã có chủng ngừa trước đó) đến 3, 3 lần so với 1 liều như trước kia. Do đó, từ tháng 6/2007, Ủy ban An toàn Tư vấn tiêm chủng Hoa Kỳ đã khuyến cáo: đối với trẻ từ 12 tháng tuổi tới 12 tuổi đã tiêm 1 liều vắc-xin nên tiêm thêm liều thứ 2 cách liều thứ nhất tốt nhất là 6 tuần trở đi hoặc trong khoảng 4-6 tuổi để gia tăng hiệu quả bệnh và giảm việc mắc bệnh thủy đậu. Và đối với trẻ trên 13 tuổi, thanh niên và người lớn nên tiêm 2 liều cách nhau tốt nhất là sau 6 tuần.

Mặc dù khuyến cáo này ngay sau đó được các bác sĩ Việt Nam áp dụng nhưng tỉ lệ tiêm nhắc lại vẫn rất thấp và đây là một trong những lý do khiến số trẻ mắc bệnh tăng nhanh trong những năm gần đây.

Nhân Hà

Source: Báo Dân Trí

Cảnh giác biến chứng viêm não khi bị thủy đậu

Tuyển chọn các bài thuốc hay có thể bạn quan tâm !

benh hiem muon

benh tieu duong

Cảnh giác biến chứng viêm não khi bị thủy đậu

(Dân trí) – Những dịch bệnh như thủy đậu, sởi, quai bị, rubella trước đây hay gặp ở trẻ nhỏ đang có xu hướng “tấn công” sang người lớn. Đáng nói, khi người lớn nhiễm các bệnh này dễ gây biến chứng nặng nề hơn ở trẻ em.